vCard chứa gì
vCard là văn bản thuần gồm các dòng có nhãn, mở đầu bằng BEGIN:VCARD và đóng bằng END:VCARD. Mỗi dòng chứa một thuộc tính, như tên đầy đủ, số điện thoại hoặc địa chỉ email. Cùng văn bản đó là nội dung của tệp .vcf khi xuất danh bạ từ điện thoại hoặc chương trình email.
Một vCard 3.0 tối thiểu cho mã QR trông như sau, mỗi thuộc tính một dòng: BEGIN:VCARD, VERSION:3.0, N:Lee;Jordan, FN:Jordan Lee, ORG:Maple Street Bakery, TEL:+15035550123, EMAIL:jordan@example.com, URL:https://example.com, END:VCARD. N chứa tên có cấu trúc (họ trước, ngăn cách bằng dấu chấm phẩy) và FN là tên như cần hiển thị.
- N: tên có cấu trúc (họ;tên;tên đệm;tiền tố;hậu tố)
- FN: tên hiển thị
- TEL: số điện thoại, tốt nhất ở định dạng quốc tế
- EMAIL: địa chỉ email
- ORG: công ty hoặc tổ chức
- TITLE: chức danh
- URL và ADR: website và địa chỉ bưu chính
Dùng phiên bản nào
Phiên bản 3.0 vẫn là lựa chọn an toàn nhất cho mã QR vì gần như mọi điện thoại đều đọc được. Nó được định nghĩa trong RFC 2426 năm 1998. Phiên bản 4.0, định nghĩa trong RFC 6350 năm 2011, là chuẩn hiện hành và yêu cầu UTF-8, nhưng một số đầu đọc cũ xử lý kém nhất quán hơn.
Phiên bản 3.0 mong đợi cả N và FN, còn 4.0 chỉ yêu cầu FN. Dù dùng phiên bản nào, dòng VERSION nên đứng ngay sau BEGIN:VCARD.
Đánh đổi giữa kích thước và khả năng quét
Mỗi trường thêm vào vCard sẽ thêm ký tự, và nhiều ký tự hơn nghĩa là mã QR dày hơn với mô-đun nhỏ hơn. Một danh thiếp có tên, một số điện thoại và một email quét dễ dàng ngay cả ở kích thước danh thiếp giấy. Thêm địa chỉ bưu chính, nhiều số, ghi chú dài hoặc ảnh nhúng có thể đẩy mã lên phiên bản cần in lớn hơn nhiều.
Ảnh thường là vấn đề: một ảnh mã hóa base64 có thể dài hàng nghìn ký tự và hiếm khi vừa trong một mã thực tế. Giải pháp thay thế phổ biến là mã hóa một liên kết ngắn đến tệp .vcf hoặc trang liên hệ được lưu trữ trực tuyến, giữ mã nhỏ và cho phép đổi thông tin sau này.